Bệnh đái tháo đường là do thiếu insulin kèm theo tăng đề kháng insulin nhiều hoặc ít. Tùy theo thể trạng của người bệnh, bác sỹ sẽ lựa chọn thuốc hoặc kết hợp thuốc thích hợp.
Khi đi khám bệnh, bệnh nhân và gia đình thường rất băn khoăn và lúng túng vì có rất nhiều thuốc khác nhau được sử dụng, và liệu thuốc có gây tác dụng phụ nào hay không?, nhất là thuốc lại được uống một cách lâu dài.
Bài viết sau đây giúp trả lời một phần câu hỏi trên.
Ngày nay, các nhà khoa học đã sáng chế ra rất nhiều loại thuốc chữa bệnh đái tháo đường. Chúng có tên gọi và cách thức làm giảm đường máu khác nhau. Để tiện theo dõi, người ta có thể xếp chúng tùy theo cách tác dụng của thuốc như sau:
- Thuốc làm tăng nhạy cảm insulin: biguanide (metformin); thiazolidinedione (rosiglitazone, pioglitazone); ức chế men DPP-IV (sitagliptine); đồng phân của GLP-1 (exenatide).
- Thuốc gây tăng tiết insulin: Sulphonylurea (glibenclamide; glipizide; gliclazide; glimepiride); Glinide (netiglinide; repaglinide).
- Thuốc làm chậm hấp thu đường glucose/chất béo từ ruột: thuốc ức chế men tiếu hóa chất bột-đường alpha glucosidase (acarbose); thuốc ức chế men tiêu mỡ lipase (orlistat).
- Insulin: insulin tác dụng nhanh; insulin tác dụng ngắn; insulin tác dụng trung bình; insulin tác dụng chậm; insulin trộn sẵn.
Các thuốc điều trị đái tháo đường có tác dụng phụ không?
Tất cả các loại thuốc đều có tác dụng phụ (kể cả thuốc Đông y), nhưng đa số các tác dụng phụ của các thuốc điều trị đái tháo đường thường không trầm trọng.
Trước tiên cần phân định rõ tác dụng tốt và mong muốn của thuốc nhưng bị ‘thái quá’. Tất cả thuốc điều trị đái tháo đường đều làm giảm đường máu. Một số thuốc khi được dùng không thích hợp, ví dụ như: dùng liều quá cao hoặc bệnh nhân bỏ bữa ăn, có thể gây ra trạng thái hạ đường huyết – nghĩa là đường máu xuống thấp hơn mức bình thường. Nếu không có các hành động thích hợp làm tăng đường máu trở lại (ăn uống thêm chất bột đường), hạ đường huyết nặng có thể dẫn đến mất ý thức và hôn mê. Để tránh bị hạ đường huyết cần lưu ý đến việc tăng liều thuốc từ từ, phân bổ bữa ăn sao cho phù hợp với lượng thuốc đang dùng, tránh ăn kiêng thái quá
Hầu hết các tác dụng phụ của thuốc đã được biết đến rõ và đa số các tác dụng phụ này sẽ biến mất khi ngừng thuốc và không để lại di chứng sau này.
Một trong những tác dụng phụ cần nói đến là dị ứng thuốc. Biểu hiện bằng ban mẩn ngứa trên da, sưng nề mắt và mặt. Tác dụng phụ này có thể điều trị đơn giản bằng cách ngừng thuốc. Một điều quan trọng cần nhớ rằng phản ứng dị ứng luôn luôn quay trở lại nếu như ta lại tiếp tục uống thứ thuốc đó. Do vậy, không nên tiếc mà sử dụng lại thuốc dưới bất kỳ dạng nào.
Một số thuốc lại gây rối loạn tiêu hóa: đầy bụng hoặc đi tiêu chảy (metformin – Glucophage). Tác dụng phụ này có thể tránh được khi sử dụng với liều thấp hơn và uống sau khi ăn. Nếu vẫn còn cảm giác đầy bụng và bị tiêu chảy sau khi đã sử dụng đúng theo khuyến cáo, chắc chắn đành phải ngưng uống metformin.
Đôi khi triệu chứng đầy bụng và tiêu chảy lại chính là tác dụng của thuốc. Đó là trường hợp bệnh nhân uống acarbose (Glucobay), vì thuốc này làm chậm quá trình tiêu hóa chất bột đường trong lòng ruột, do vậy sẽ có cảm giác đầy chướng bụng. Loại tác dụng phụ này không gây vấn đề nghiêm trọng lâu dài, nó có thể đỡ hoặc không còn khi giảm liều thuốc (hoặc là ngưng sử dụng thuốc).
Hiếm gặp hơn là các tác dụng phụ trên gan, thận khi uống sulphonylurea hoặc chất ức chế DPP-IV. Có thể phát hiện dễ dàng bằng xét nghiệm máu đơn giản. Những tác dụng phụ này sẽ hết khi ngưng uống thuốc.
Một số thuốc gây giữ nước và có thể gây tác dụng xấu cho những bệnh nhân suy tim. Do vậy, những thuốc này (rosiglitazone và pioglitazone) không được dùng cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng tim.
Trên đây chỉ là một số tác dụng phụ thường gặp nhất. Phần lớn tác dụng phụ này sẽ tránh được nếu sử dụng thuốc cẩn thận một cách thích hợp. Bác sỹ sẽ lựa chọn cùng bệnh nhân sao cho được loại thuốc điều chỉnh tốt nhất đường máu với khả năng bị tác dụng phụ ít nhất.
Nhiều công trình nghiên cứu trên số đông bệnh nhân đã chứng minh rằng nếu đường máu được cân bằng tốt, bệnh nhân sẽ ít bị biến chứng mắt, thận, thần kinh đái tháo đường. Những biến chứng này không những làm giảm tuổi thọ người bệnh mà còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của người bệnh đái tháo đường.
Thuốc điều trị đái tháo đường có gây suy thận?
Quan niệm sai lầm này là do thực tế là bệnh thận do đái tháo đường rất phổ biến, nhất là ở những bệnh nhân điều trị không tốt. Vậy nên nhiều người cho rằng bệnh thận đái tháo đường là do quá trình uống thuốc điều trị lâu dài gây ra.
Trên thực tế thì việc điều trị tốt bệnh đái tháo đường bằng thuốc giúp giảm thiểu khả năng bị bệnh thận do đái tháo đường (nói một cách phổ quát, việc làm giảm 1% HbA1c sẽ giúp làm giảm biến chứng mạch máu nhỏ như bệnh võng mạc, bệnh thần kinh, bệnh thận do đái tháo đường khoảng 30%).
Một lý do khiến cho mọi người có quan niệm sai trên cũng là vì khi bị suy thận, nhiều loại thuốc không được tiếp tục sử dụng nữa vì lý do thuốc không thải loại ra khỏi cơ thể được như trước dẫn đến hiện tượng tích lũy thuốc và do đó bệnh nhân dễ có nguy cơ bị hạ đường huyết hơn (việc ngưng thuốc khiến mọi người cho là thuốc có tác dụng xấu đến thận). Trong trường hợp như vậy, tiêm insulin là biện pháp an toàn hơn và ít có tác dụng phụ hơn.
Insulin tiêm ngày nay là insulin giống hệt cấu trúc insulin do tụy người tiết ra. Vấn đề chủ yếu là vượt qua trở ngại về mặt quan niệm rằng tiêm insulin làm bệnh của mình đã nặng lên, rằng tiêm insulin gây nhiều ‘cách rách’ phức tạp cho cuộc sống.
Ngày nay, với những bút tiêm insulin hiện đại, tiêm insulin rất thuận lợi và gần như không đau, vì vậy giúp cũng cho bệnh nhân dễ chấp thuận dùng insulin hơn trước rất nhiều.
Ths, Bs Nguyễn Huy Cường. Số lượt đọc:
2181
-
Cập nhật lần cuối:
29/10/2009 09:08:42 AM |